Nông nghiệp Hữu cơ - Nền tảng Sản xuất Nông nghiệp Bền vững

1. Thực trạng sản xuất nông nghiệp hữu cơ 

1.1 Thực trạng sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên thế giới

1.1.1. Về sản xuất 

Theo số liệu công bố năm 2019 (FiBL và IFOAM, 2019) của Viện Nghiên cứu và Truyền thông NNHC (Communication, Research Instituteof Organic Agriculture FiBL) và Hiệp hội NNHC Quốc tế (International Federation of Organic Agriculture Movements IFOAM như sau:

Năm 2017 toàn thế giới có 181 nước được chứng nhận có sản xuất nông nghiệp hữu cơ (NNHC), tăng 2 nước so với năm 2015 và tăng 21 nước so với năm 2009. 

Diện tích đất NNHC tăng nhanh từ năm 2011 đến năm 2017, giai đoạn 2015 -2017 có sự tăng trưởng mạnh mẽ nhất. Diện tích đất sản xuất năm 2017 có 69,9 triệu ha NNHC chiếm 1,4% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn cầu. Năm 2017 diện tích đất NNHC tăng 37,3 % so với năm 2015 (50,9 triệu ha) và tăng 87,9 % so với giai đoạn 2009 - 2011.

Châu đại dương có diện tích đất sản xuất lớn nhất với 35,9 triệu ha chiếm 51% diện tích canh tác hữu cơ, Châu âu 14,6 triệu ha chiếm 21%, Mỹ La tinh 8 triệu ha chiếm 11%, Châu á 6,1 triệu ha chiếm 9%, Bắc Mỹ 3,2 triệu ha chiếm 5% và Châu Phi 2,1 triệu ha chiếm 3%. Nước có diện tích canh tác NNHC lớn nhất là Úc (35,6 triệu ha), Argentina (3,4 triệu ha), Trung quốc (3,0 triệu ha), Tây Ban Nha (2,1 triệu ha), Mỹ (2,0 triệu ha), Ý (1,9 triệu ha), Uraguay (1,9 triệu ha), Ấn Độ (1,8 triệu ha), Pháp (1,7 triệu ha) và Đức (1,4 triệu ha).

Diện tích đồng cỏ và đồng chăn thả gia súc là 48,2 triệu ha chiếm 2/3 điện tích đất NNHC. Có 12,1 triệu ha NNHC trồng cây hàng năm chiếm 17% diện tích đất NNHC tăng 11,3% so với năm 2016 gồm 4,5 triệu ha trồng lúa, 2,8 triệu ha trồng cây làm thức ăn cho gia súc, 1,2 triệu ha trồng các loại cây có hạt có dầu và rau. Diện tích canh tác hữu cơ cây lâu năm là 4,9 triệu ha (7% tổng diện tích NNHC) và tăng 6,7 % so với năm 2016, trong đó một số cây quan trọng nhất là: cà phê (0,9 triệu ha), ô-liu (0,9 triệu ha), nho (0,4 triệu ha), cây ăn quả nhiệt đới và cận nhiệt đới (0,4 triệu ha).

  • Châu Phi

Châu phi là khu vực có diện tích đất NNHC ít nhất trên thế giới, có 2,1 triệu ha đất NNHC chiếm 0,2% tổng diện tích đất nông nghiệp của khu vực tăng 14% so với năm 2016. Có 44 nước sản xuất nông nghiệp hữu cơ và 815.000 trang trại/hộ được cấp chứng nhận hữu cơ. Các nước có diện tích NNHC lớn là Tunisia (306.500 ha), nước có số lượng trang trại được cấp chúng nhận hữu cơ lớn nhất là nước Uganda (210.000 trang trại/hộ).

Tại Châu Phi 90% diện tích đất NNHC sử dụng trồng các loại cây dài ngày như cà phê và ô liu; diện tích còn lại trồng các cây khác như đậu nành, đậu phộng và bông vải.

  • Châu á

Diện tích sản xuất NNHC là 6,1 triêu ha tăng 25% so với năm 2016. Các nước sản xuất nông nghiệp hữu cơ lớn nhất là Trung Quốc (3 triệu ha), Ấn Độ là nước có số trang trại/hộ hữu cơ lớn nhất 835.000, nước có diện tích sản xuất NNHC lớn nhất trên tổng diện tích đất nông nghiệp là Timor-Leste (8,2%) và Sri Lanka (6%). Tại Châu Á 2/3 diện tích đất NNHC là trồng các loại ngủ cốc gồm gạo (42%), ngô (14,5%) và lúa mỳ (27%). Nước có diện tích NNHC trồng ngủ cốc lớn là Trung Quốc và Kazakhstan. Philippin là nước có diện tích dừa hữu cơ lớn nhất chiếm 70% tổng diện tích dừa hữu cơ của khu vực Châu Á. Hầu hết cà phê hữu cơ của Châu á trồng tại Indonexia và Timor-Leste.

  • Châu âu

Tại Châu âu có diện tích NNHC là 14,6 triệu ha, trong đó diện tích NNHC lớn nhất nằm ở liên minh Châu Âu 12,8 triệu ha. Nước có diện tích sản xuất NNHC lớn nhất là

Tây ban nha (14%), Ý (13%), Pháp (12%), Đức (9%) và Nga (5%). Châu Âu đất NNHC chủ yếu sử dụng trồng thức ăn cho gia súc (11,6 triệu ha), các loại cây ăn quả và ô liu.

  • Bắc Mỹ

Khu vực Bắc Mỹ có 3,2 triệu ha diện tích NNHC tăng 3% so với năm 2018. Mỹ và Canada là 2 nước có nhiều trang trại/hộ sản xuất hữu cơ nhất lần lượt là 14.000 và 4800 trang trại/hộ tham gia tăng 66% so với năm 2004. Cây trồng chính là trồng cỏ/đồng cỏ chăn thả gia súc 43%, các loại cây ngắn ngày là 44%, chỉ có 1,4% diện tích trồng cây dài ngày.

  • Châu đại dương

Châu đại dương là khu vực có diện tích NNHC đạt 39,5 triệu ha, tăng 31% so với năm 2016. Nước có diện tích sản xuất NNHC lớn nhất là Úc cũng là nước diện tích đất NNHC lớn nhất trên thế giới. Có khoảng 27.000 trang trại/hộ được cấp chứng nhận hữu cơ, nước có nhiều trang trại/hộ hữu cơ nhất là Papua New Guinean (12.000 trang trại/hộ), Vanutu (3.000 trang trại/hộ).

 Tại Úc Trong năm 2017 đã cấp cho 1998 trang trại/hộ đạt chứng nhận về sản xuất NNHC giảm 3% tuy nhiên diện tích đất NNHC tăng 10% so với năm 2016. Nguyên nhân do cấp chứng nhận đất NNHC cho diện tích trồng cây ăn quả và đất trồng cỏ chăn nuôi gia súc lớn. Mùa vụ năm 2015/2016 Úc đã giảm diện tích canh tác lúa mỳ, lúa mạch sang trồng các loại cây ăn quả, nho dùng để sản xuất rượu, trồng các loại rau và trồng cỏ để chăn thả gia súc.

Ở Mỹ La tinh các loại cây trồng hữu cơ tập trung vào các loại cây lâu năm như Cà phê, ca cao và các loại cây an quả.

1.1.2. Về thị trường 

Hình 5. Sự tăng trưởng về giá trị thương mại của sản phẩm NNHC trên thế giới giai đoạn 2009 – 2017 (theo FiBL và IFOAM, 2019)

 

Giá trị về sản phẩm hữu cơ tăng liên tục qua các năm từ năm 2009 đến 2017. Năm 2009 giá trị NNHC đạt chỉ 54,9 tỷ USD, năm 2011 là 62,9 tỷ USD, 2013 lá 72 tỷ USD và 2015 là 81,6 tỷ USD, trong đó giai đoạn từ năm 2011 – 2015 là tăng mạnh mẽ nhất. Sản xuất hữu cơ toàn cầu năm 2017 đạt giá trị 97 tỷ USD tăng 18,9 % so với năm 2015 và 77,3% năm 2009.

Những khu vực tiêu thụ nhiều sản phẩm hữu cơ nhất là Bắc Mỹ (48,7 tỷ USD), Châu Âu (39,6 tỷ  USD) và các khu vực khác như Úc, Châu Á, Châu Phi và Mỹ La tinh (8,7 tỷ USD). Mỹ quốc gia có giá trị NNHC là 45,2 tỷ USD lớn nhất trên thế giới. Thực phẩm nông nghiệp hữu cơ tại Mỹ được bán trên thị trường bởi chuỗi siêu thị lớn và 3000 cửa hàng bán lẻ.  Công ty Amazon với chuỗi siêu thị Whole Foods Market với giá trị 13,7 tỷ USD năm 2017, cung cấp cho nhu cầu thực phẩm hữu cơ tại Mỹ, Canada và Anh . Châu âu có giá trị thương mại NNHC lớn thứ 2 và số lượng nhà bán lẻ lớn nhất thế giới. Mước tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ lớn là Đức, Pháp và Ý. Một vài quốc gia cũng đưa thực phẩm hữu cơ vào trường học phục vụ cho việc ăn uống của học sinh.

Tại Châu á, Trung Quốc là nước tiêu thụ sản phẩm hữu cơ lớn nhất là 7,6 tỷ €, Nhật Bản là 1.4 tỷ € và Hàn quốc là 330 triệu €. Thị trường các nước Châu á được nhận định có tiềm năng phát triển các mặt hang nông nghiệp hữu cơ.

Úc là nước sản xuất nông nghiệp hữu cơ lớn, tuy nhiên sản phẩm chủ yếu phục vụ xuất khẩu. Úc xuất khẩu hàng hóa NNHC chủ yếu sang các nước Châu á (38%) gồm các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn quốc và Singapore, khu vực Bắc Mỹ  (29%) chủ yếu là nước Mỹ và Châu âu (12%). Một số mặt hàng hữu cơ chính như sữa, thịt, cây ăn quả (Kiwi, táo, lê), rượu và rau.

Trong tương lai nhu cầu thực phẩm nông hữu cơ tăng cao, giá trị thương mại sớm đạt mức trên 100 tỷ USD.  Một số khu vực sản xuất NNHC chủ yếu để xuất khẩu, trong khi đó nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng lên kéo theo đó là sự phát triển của các ngành bán lẻ thực phẩm hữu cơ đặc biệt là khu vực Mỹ Latinh, Châu á và Châu phi.

2.2 Thực trạng sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam       

2.2.1. Thực trạng sản xuất, chứng nhận chất lượng, tiêu thụ và chính sách về nông nghiệp hữu cơ

Theo Nguyễn Thị Hương (2017), Việt Nam việc canh tác hữu cơ chia làm ba nhóm người nông dân chỉ biết sử dụng các phương pháp truyền thống trong hệ thống sản xuất nông nghiệp như ủ phân, luân canh, bảo vệ cây trồng khỏi sâu bệnh mà không cần đầu vào bên ngoài tổng hợp, được đặt tên là nông dân hữu cơ truyền thống. Nhóm thứ hai là những nông dân hữu cơ đã cải cách, những người đã ngừng sử dụng hóa chất nông nghiệp trong trang trại của họ vì họ nhận ra những tác động tiêu cực của việc sử dụng hóa chất nông nghiệp trong thời gian dài đối với sức khỏe và tác động môi trường. Thứ ba, nông dân hữu cơ được chứng nhận có giấy chứng nhận sản phẩm hữu cơ sau quá trình chuyển đổi và cung cấp các điều kiện cần thiết để được cấp chứng nhận hữu cơ.

Báo cáo của FiBL và IFOAM giai đoạn 2006 – 2007 việt Nam chỉ có 6.475 ha được cấp giấy chứng nhận hữu cơ chiếm 0,07% diện tích đất nông nghiệp. Đến năm 2014 diện tích sản xuất NNHC của Việt Nam đạt hơn 43.000 ha, đứng thứ 56/172 nước trên thế giới, thứ 3 trong ASEAN (sau Indonesia và Philippines). Diện tích sản xuất

NNHC của Việt Nam tăng nhanh, gấp hơn 3 lần trong giai đoạn 2007-2014. Ngoài ra, Việt Nam còn có 20.030 ha mặt nước thủy sản hữu cơ, 2.200 ha cho thu hái tự nhiên, tổng diện tích NNHC của Việt Nam lên hơn 65.000 ha. (Theo FiBL và IFOAM (2016).

Về sản phẩm hữu cơ chính, Việt Nam chủ yếu là lúa (220 ha); ca cao (2.300 ha), và rau (151 ha), chè, tôm, quế, hồi và tinh dầu.

Theo báo cáo của Cục Trồng trọt (2017), năm 2016 có 26 cơ sở sản xuất hữu cơ ở 15 tỉnh, thành phố (Lào Cai, Hòa Bình, Hà Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Thái Nguyên, Hà Nội, Hà Nam, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Lâm Đồng, Bến Tre, Trà Vinh,

Cà Mau) với tổng diện tích hơn 4.100 ha. Các cây chủ yếu là dừa (3.052,3 ha), chè (538,9 ha), lúa (489,8 ha) và rau (94,1 ha). Trong các tỉnh, Bến Tre có diện tích canh tác hữu cơ nhiều nhất với hơn 3.050 ha (chủ yếu là dừa). Một số mô hình khá hiệu quả như nuôi cá basa hữu cơ tại An Giang, nuôi tôm sinh thái ở rừng ngập mặn Cà Mau đã có chứng nhận hữu cơ với diện tích khoảng 10.000 ha xuất khẩu sang EU. Một số doanh nghiệp đi đầu trong sản xuất hữu cơ như Công ty Viễn Phú sản xuất lúa - cá tại Cà Mau với diện tích canh tác trên 250 ha; Công ty Organic Đà Lạt sản xuất rau hữu cơ… 

Ngoài ra, cũng có 33 cơ sở sản xuất trồng trọt theo hướng hữu cơ, tức là mới chú trọng đến sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc BVTV sinh học với 1.197 ha lúa, 90,3 ha rau,

284,7 ha nho và 79,4 ha táo, trong đó Ninh Thuận là tỉnh có diện tích lớn nhất (448,3 ha), chủ yếu vẫn là nho (284,7 ha) (cục trồng trọt 2017).

Theo báo cáo của FiBL và IFOAM năm 2018, Năm 2016 tại Việt Nam có 53.348 ha đất sản xuất NNHC chiếm 0,5% tổng diện tích đất nông nghiệp, đứng thứ 2 Đông Nam á và thứ 8 của khu vực Châu á.

* Về chứng nhận chất lượng

Năm 2008, một hệ thống chất lượng hữu cơ có tên PGS (Hệ thống đảm bảo có sự tham gia) đã được tìm thấy áp dụng tại Việt Nam, được IFOAM (Liên đoàn các phong trào nông nghiệp hữu cơ quốc tế) chứng nhận. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn gặp khó khăn trong việc chuyển đổi sang hữu cơ để trở thành một quốc gia hữu cơ quy mô lớn có thể là do hệ thống hữu cơ đánh giá ở Việt Nam không chấp nhận sự không phù hợp trong hệ thống toàn cầu. Ngoài ra, mặc dù Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã công bố Tiêu chuẩn cơ bản quốc gia về các sản phẩm hữu cơ năm 2006, nhưng không có các quy định cụ thể để chúng nhận sản phẩm hữu cơ.

Năm 2017, Bộ NN - PTNT ban hành Tiêu chuẩn ngành TCVN 11041-4:2017 về tiêu chuẩn quốc gia và khung pháp lý cho sản xuất, chứng nhận và giám sát chất lượng sản phẩm NNHC.  Bộ tiêu chuẩn này quy định toàn diện từ quá trình sản xuất, chế biến, ghi nhãn nông nghiệp hữu cơ trong quá trình trồng trọt và chăn nuôi cũng như đưa ra các yêu cầu đối với tổ chức đánh giá, cấp chứng nhận hữu cơ.

Năm 2018, chính phủ ban hành Nghị định về nông nghiệp hữu cơ số 109/2018/NĐCP ngày 29/8/2018. Quy định về sản xuất, chứng nhận, ghi nhãn, logo, truy xuất nguồn gốc, kinh doanh, kiểm tra sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản. 

Việc triển khai các tiêu chuẩn, chính sách sẽ góp phần gia tăng giá trị sản phẩm, chất lượng sản phẩm, hàng hóa lưu thông trong nước và xuất khẩu nông sản hữu cơ. 

  • Tiêu dùng: 

Rau hữu cơ tiêu thụ chủ yếu thị trường trong nước tại TP HCM, Hà Nội, Nha Trang. Ngoài ra, hiện nay sản phẩm nông nghiệp hữu cơ còn được xuất khẩu sang Đài Loan, Singapore, Nhật Bản, Các nước EU, các Hoa Kỳ và Úc (Phòng Việt Nam của  thương mại  và  công nghiệp,  2013). Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ chủ yếu là gạo, chè và rau hữu cơ.

  • Chính sách: 

Chính phủ Việt Nam luôn ủng hộ phát triển nền nông nghiệp bền vững và thân thiện môi trường.  Đầu năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 01/2012/QDTTg về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, trong đó có NNHC. 

Năm 2018, chính phủ ban hành Nghị định về nông nghiệp hữu cơ số 109/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018. Trong đó, về chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ. Cụ thể, ưu tiên về kinh phí khoa học nghiên cứu, dự án khuyến nông, đặc biệt về giống kháng sâu bệnh, phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, thuốc thú y thảo mộc. Nghị định cũng quy định cụ thể một số chính sách đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình, nhóm hộ sản xuất sản phẩm hữu cơ. Theo đó, hỗ trợ 100% kinh phí xác định các vùng, khu vực đủ điều kiện sản xuất hữu cơ: Điều tra cơ bản, khảo sát địa hình, phân tích mẫu đất, mẫu nước, mẫu không khí do cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Hỗ trợ một lần 100% chi phí cấp Giấy chứng nhận sản phẩm phù hợp TCVN về nông nghiệp hữu cơ do Tổ chức chứng nhận cấp (cấp lần đầu hoặc cấp lại); về hỗ trợ đào tạo, tập huấn sản xuất hữu cơ, định mức hỗ trợ thực hiện theo quy định của Chính phủ về khuyến nông.

Về hỗ trợ xây dựng, nhân rộng mô hình sản xuất hữu cơ theo TCVN, định mức hỗ trợ chi phí giống kháng sâu bệnh, phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học đối với mô hình trồng trọt; chi phí giống, thức ăn hữu cơ, thuốc thú y được phép sử dụng đối với mô hình chăn nuôi, thủy sản và chi phí nhân rộng mô hình theo quy định của Chính phủ về khuyến nông.

* Các cơ quan, tổ chức hoạt động về NNHC: 

Các cơ quan nhà nước có liên quan đến lĩnh vực NNHC gồm: Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Khoa học - Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo... Hầu hết các viện và cơ sở nghiên cứu quan tâm đến NNHC đều trực thuộc Bộ NN & PTNT, với chức năng nhiệm vụ liên quan đến đối tượng cây trồng, vật nuôi và thủy sản, gồm Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) và các viện/ trung tâm nghiên cứu trực thuộc, Viện Chăn nuôi, các Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản (RIA1, RIA2, RIA3...) và các trường đại học nông nghiệp. Các tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp quan tâm đến NNHC gồm: Hội Nông dân Việt Nam (VNFU) cho rau hữu cơ, Công ty ECOMART cho chè hữu cơ; Organik Đà Lạt cho rau hữu cơ; Doanh nghiệp Trang trại Xanh Viễn Phú cho gạo hữu cơ và các mô hình nuôi tôm sinh thái tại tỉnh Cà Mau... Có rất ít các cơ quan, tổ chức quốc tế hỗ trợ phát triển NNHC ở Việt Nam, ngoại trừ tổ chức ADDA của Đan Mạch, GTZ của Đức và gần đây là Tổng cục Phát triển Nông thôn RDA của Hàn Quốc. 

3. Cơ hội và thách thức khi sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam

3.1. Cơ hội 

Hiện nay, NNHC là một cơ hội cho Nông nghiệp Việt Nam, nhất là khi giá bán các nông sản đang xuống thấp, chất lượng và vệ sinh an toàn chưa được kiểm soát hiệu quả.

Việc lạm dụng phân bón và hóa chất BVTV đã và đang gây ra ô nhiễm môi trường và làm suy giảm chất lượng nông sản. Do vậy, phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững là một xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm thiểu tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng cũng như môi trường sống, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế sẽ ngày càng cấp thiết. Đây là cơ hội cho phát triển nông nghiệp hữu cơ khi yêu cầu về nhân thức của người tiêu dùng sản phẩm phải đảm bảo an toàn và quá trình sản xuất nông nghiệp thân thiện với môi trường. Hơn nữa là nhu cầu sản phẩm hữu cơ trong nước và quốc tế tăng cao.

Tại Việt Nam, một số sản phẩm hữu cơ đã có chỗ đứng vững trên thị trường như rau sạch, chè hữu cơ, thịt sạch... Tuy nhiên, có thể nói nông nghiệp hữu cơ vẫn còn chiếm một tỉ trọng rất nhỏ/không đáng kể trong tổng sản lượng nông nghiệp và có tiềm năng phát triển mạnh trong tương lai.

Hiện nay, đang có xu hướng giảm diện tích gieo trồng và phát triển nâng cao chất lượng, phát triển sản phẩm đặc trưng của vùng miền ví dụ như sản xuất lúa, giảm xuất khẩu gạo để gieo trồng nhiều hơn các giống lúa chất lượng, nâng cao ti lệ giống đặc sản, bản địa có chất lượng. Chúng ta không thể cứ xuất khẩu gạo với giá dưới 500USD, trong khi nhiều thành phố lại nhập về gạo trên 1000USD. Và như vậy, cơ hội trở lại canh tác hữu cơ với một số giống lúa là hiện hữu. 

Với điệu kiện tự nhiên và xã hội của Việt Nam, nông nghiệp hữu cơ có cơ hội cho ngành hàng rau, quả, chè núi cao, cây gia vị, cây làm thuốc, thủy sản theo phương thức nuôi sinh thái và một tỉ lệ nhất định với cà phê, hồ tiêu. 

Một yếu tố rất quan trọng là sự quan tâm của Nhà nước và người dân đã được nâng lên đối với NNHC. Minh chứng là, ngày 22/5/2013 Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt

Nam đã chính thức được thành lập. Năm 2017, Bộ NN - PTNT ban hành Tiêu chuẩn ngành TCVN 11041-4:2017 về tiêu chuẩn quốc gia và khung pháp lý cho sản xuất, chứng nhận và giám sát chất lượng sản phẩm NNHC.  Năm 2018, chính phủ ban hành Nghị định về nông nghiệp hữu cơ số 109/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018 về hỗ trợ và khuyến kích phát triển NNHC.

3.2. Thách thức

Việc thay đổi tập quán canh tác từ sản xuất thông thường sang sản xuất hữu cơ là vấn đề không dễ dàng bởi người sản xuất bởi vì trong sản xuất sản xuất nông nghiệp hữu cơ chỉ được phép sử dụng chế phẩm sinh học, phân bón hữu cơ, phòng trừ dịch hại bằng các biện pháp thủ công hoặc thuốc thảo mộc, sinh học nên mất nhiều công sức và khó thực hiện trên diện rộng so với sản xuất thông thường. 

Sản xuất nông nghiệp hữu cơ có chi phí sản xuất cao, thường cho năng suất cây trồng/vật nuôi thấp nên giá thành phẩm luôn cao hơn. Từ đó, để nông nghiệp hữu cơ phát triển, người tiêu dùng có các sản phẩm hữu cơ an toàn cho sức khỏe, chúng ta cần tuyên truyền để mọi người hiểu giá trị của sản phẩm hữu cơ, đưa ra nhiều chính sách ưu đãi/khuyến khích nông dân canh tác hữu cơ và cuối cùng là tạo nên chuỗi sản xuất - tiêu thụ sản phẩm hữu cơ.

Với những cây trồng lâu năm trước đây đã sử dụng nhiều phân bón hóa học, thuốc hóa học bảo vệ thực vật theo tập quán canh tác thông thường việc chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ thường khó khăn vào những năm đầu.

Để đảm bảo an ninh lương thực, các nước có thể dựa vào 2 yếu tố là tăng diện tích và năng suất. Việt Nam cũng đã đi theo hướng này trong vài thập kỷ qua. Các quốc gia đông dân, đất nông nghiệp hạn chế cả về số lượng và chất lượng sẽ phải đi theo con đường thâm canh với việc tăng cường sử dụng giống mới năng suất cao, phân bón vô cơ và hoá chất bảo vệ thực vật. 

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp công nghệ cao

 

Bài Viết Cùng Chủ Đề

KỸ THUẬT TRỒNG LAN KIM TUYẾN

Việc sản xuất thương phẩm cây lan Kim Tuyến là điều tất yếu, đây sẽ là nguồn cung cấp dược liệu chữa bệnh, đồng thời mang lại thu nhập cho nông dân, góp phần bả...

Xem Thêm

Nghiên cứu hiệu lực kháng nấm Collectotrichum capsici gây bệnh thán thư trên cây ớt của phân đoạn oligochitosan chế tạo bằng phương pháp chiếu xạ kết hợp xử lý hóa học

Chitosan được cắt mạch bằng phương pháp chiếu xạ dung dịch chitosan 5% trong acetic acid có và không có xử lý kết hợp H2O2 để chế tạo oligochitosan. Chế phẩm ol...

Xem Thêm

Ảnh hưởng của nhiệt độ, thời gian xử lý và độ tuổi thích hợp đến khả năng ra hoa của lan hồ điệp (Phalaenopsis sp.) nhập nội trồng tại Thành phố Hồ Chí Minh

Nhằm chủ động điều khiển sự ra hoa của lan Hồ Điệp theo ý muốn tại thành phố Hồ Chí Minh, giống lan Hồ Điệp Taida Pearl được đưa vào xử lý lạnh với các thời gia...

Xem Thêm

Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sự phát triển quần thể của sâu xanh hai sọc trắng Diaphania indica Sauders (Pyralidae - Lepidoptera) trên cây dưa leo tại Thành phố Hồ Chí Minh

Mục đích nghiên cứu nhằm cung cấp số liệu cơ bản về đặc điểm sinh học và sự phát triển quần thể của sâu xanh hai sọc trắng, góp phần bổ sung cơ sở khoa học và t...

Xem Thêm

Nghiên cứu bổ sung đặc điểm sinh học, khả năng ăn mồi của bọ rùa (Menochilus sexmaculatus fabricius) và (Coccinella transversalis fabricius) trên một số côn trùng gây hại chính trong nhà lưới tại Thành phố Hồ Chí Minh

Loài bọ rùa M. sexmaculatus và C. transversalis khá phổ biến trên nhiều loại cây trồng và có ý nghĩa lớn trong kiểm soát các loài rệp gây hại. Ở điều kiện phòng...

Xem Thêm

Phòng trừ nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae hại cây dưa lê trong nhà lưới bằng nhện nhỏ bắt mồi Amblyseius longispinosus (Phytoseiidae - Acarina)

Sử dụng một loài động vật ăn thịt mite Amblyseius longispinosus để kiểm soát nhện nhện đỏ Tetranychus urticae Koch trên dưa lê (Cucumis melo L.) được tiến hành ...

Xem Thêm