Nghiên cứu hiệu lực kháng nấm Collectotrichum capsici gây bệnh thán thư trên cây ớt của phân đoạn oligochitosan chế tạo bằng phương pháp chiếu xạ kết hợp xử lý hóa học

Phạm Đình Dũng1,2, Nguyễn Tiến Thắng3, Dương Hoa Xô4, Lê Quang Luân4, *

1Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh

2Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

3Viện Sinh học nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh

3Trung tâm Công nghệ sinh học Thành phố Hồ Chí Minh

TÓM TẮT

Chitosan được cắt mạch bằng phương pháp chiếu xạ dung dịch chitosan 5% trong acetic acid có và không có xử lý kết hợp H2O2 để chế tạo oligochitosan. Chế phẩm oligochitosan có khối lượng phân tử (Mw) ~ 14,84 kDa chế tạo bằng phương pháp chiếu xạ kết hợp xử lý H2O2 được sử dụng đ ể tách thành 5 phân đo ạn oligochitosan có Mw khác nhau (F1: Mw < 1 kDa, F 2: ~ 1-3 kDa, F3: Mw ~ 3-10 kDa, F4: Mw ~ 10-30 kDa và F5: Mw > 30 kDa) phục vụ cho nghiên cứu hiệu ứng sinh học trên cây ớt (Capsicum frutescens L.). Kết quả thử nghiệm về hiệu ứng tăng trưởng cho thấy các phân đoạn oligochitosan đều có tác dụng gia tăng sinh khối tươi (9,9 - 56,3%) và hàm lượng chlorophyll (20 -92,4%) khi xử lý trên cây ớt. Thêm vào đó, kết quả khảo sát hiệu lực kháng nấm Collectotrichum capsici gây bệnh thán thư (anthracnose) trên cây ớt trong điều kiện in vitro cho thấy, các phân đoạn F3, F4 và F5 có Mw ≥ 3 kDa đều có tác dụng ức chế sự phát triển của tản nấm C. capsia ở nồng độ sử dụng là 0,5%. Trong khi đó xử lý phun các phân đoạn F2 và F3 có Mw ~ 1 - 10 kDa lại có tác dụng gia tăng khả năng kháng bệnh của cây ớt đối với loại nấm bệnh này đồng thời còn gia tăng trọng lượng quả từ 39,0 đến 48,7%. Như vậy, các phân đoạn oligochitosan có Mw ~ 1-10 kDa không chỉ có tác dụng tăng trưởng mà còn có tác dụng làm gia tăng khả năng kháng bệnh thán thư do nấm C. capsici gây ra ở cây ớt.

Từ khóa: Bệnh thán thư, chiếu xạ γ, Collectotrichum capsici, oligochitosan, phân đoạn

MỞ ĐẦU

Bệnh thán thư (anthracnose) làm thối trái do nấm Collectotrichum capsici gây ra trên cây ớt là một trong các bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng nhất là và làm tổn thất từ 10 đến 80% sản lượng trồng ớt Ấn độ, Thái Lan, Hàn Quốc và Việt Nam. Ở Việt Nam, tất cả các vùng trồng ớt tập trung trên cả nước đều bị bệnh thán thư phá hoại nặng nề (Trần Thanh Tùng, 2003). Các biện pháp phòng trừ bệnh do nấm C. capsici thông dụng hiện nay là dùng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học không an toàn, gây độc hại cho người sử dụng và môi trường (Trần Thanh Tùng, 2003; Alexander, Waldenmaier, 2002; Roberts et al., 2001).

Chitosan là một polymer có nguồn gốc tự nhiên gồm các đơn phân β-D-glucosamine và β-N-acetyl-glucosamine (Le et al., 2005). Trong nông nghiệp, chitosan được sử dụng làm chất tăng trưởng thực vật (Kumar, 2001), bảo quản nông sản và bọc hạt gi ống do chúng có hoạt tính kháng vi sinh vật (Tay et al., 1993; Vasyokova et al., 2001; Kume et al., 2002). Oligochitosan còn có tác dụng hỗ trợ vào cơ chế phòng vệ ở thực vật, kích thích sự tổng hợp và tiết ra một số loại enzyme như phytoalexin, chitinase, pectinase, ... như là các chất kháng bệnh tự nhiên trên thực vật (Warker-Shimmons et al., 1983; Roberts et al., 2001; Badawy, Rabea, 2009; Le et al., 2006). Gần đây Xu et al., (2006) cũng đã thông báo rằng phân đoạn oligochitosan có khối lượng phân tử (Mw) thấp đã có ho ạt tính kháng đ ối với nhiều loại nấm gây bệnh thực vật như Phytophthora capsici, Alternaria solani, Botrytis cinerea, Colletotrichum orbiculare, Exserohilum turcicum, Fusarium oxysporum Pyricularia oryzae. Thêm vào đó, Luan et al., (2006) cũng đã cho th ấy các phân đo ạn oligochitosan có khối lượng phân tử từ 1 đến 10 kDa có hoạt tính tăng trưởng và hiệu ứng phytoalexin cao hơn so với các phân đo ạn khác. Để chế tạo oligochitosan, chiếu xạ được cho là phương pháp hiệu quả nhất hiện nay do có nhiều ưu đi ểm hơn các phương pháp sử dụng enzyme hay các tác nhân hóa học (Kume et al., 2002). Mặc dù vậy, gần đây phương pháp chiếu xạ kết hợp xử lý hydrogen peroxide trong cắt mạch các polysachride tự nhiên đã có tác d ụng làm giảm một đáng kể liều chiếu xạ (Luan et al., 2012; Duy et al., 2011) và do đó đã làm giảm chi phí chiếu xạ và hạ giá thành sản phẩm. Mục đích của nghiên cứu này là nghiên cứu hiệu ứng tăng trưởng và hoạt lực kháng nấm C. capsici gây bệnh thán thư trên cây ớt của các phân đoạn oligochitosan chế tạo bằng phương pháp cộng hợp (synergic) nhằm tiến tới ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp để tạo ra các sản phẩm nông sản sạch, chất lượng cao và thân thiện với môi trường.

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Vật liệu

Chitosan 8B có đ ộ deacetyl khoảng 80% của Hãng Kaitokichi, Nhật Bản. Hydrogen peroxide, acetic acid, môi trường potato dextrose agar (PDA) của Hãng Merk, Đ ức. Nguồn xạ tia gamma GC-5000, BRIT, Ấn Đ ộ tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt. Chủng nấm Collectotrichum capsici do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao cung cấp và giống ớt thí nghiệm là ớt ch ỉ thiên TN278 (Capsicum frutescens L.) do Công ty Trang Nông cung cấp.

Chế oligochitosan bằng phương pháp chiếu xạ và chiếu xạ kết hợp xử lý H2O2

Hòa tan 5 g chitosan trong dung dịch acetic acid 0,5% có và không có 1% H2O 2 sau định mức đến 100 ml bằng chính các dung môi tương ứng đ ể có đư ợc dung dịch chứa 5% chitosan trong 0,5% acetic acid và trong 0,5% acetic acid kết hợp 1% H2O2. Tiến hành chiếu xạ các mẫu trên nguồn xạ gamma Co-60 trong dãy liều 5 – 150 kGy với suất liều 3 kGy/h.

Xác định khối lượng phân tử

Mẫu oligochitosan sau khi chiếu xạ được xác định khối lượng phân tử (Mw) trên máy GPC sử dụng 4 cột TSKgel PWxl, (G6000PWxl,G4000PWxl, G3000PWxl, G2500PWxl) đư ợc kết nối với cột bảo vệ TSK guard column PWxl. Các mẫu chitosan được đo với nồng đ ộ 0,1% (w/v) trong dung môi CH3COOH 0,2M và CH3COONa 0,1M ở nhiệt đ ộ 40°C với tốc độ bơm là 1 ml/phút và chất chuẩn sử dụng là PEG có Mw là 0,2 – 6 kDa và PEO với Mw là 24 – 920 kDa. Độ suy giảm khối lượng phân tử được tính như sau: ĐSG (%) = (Mw 0 – Mw) x 100/Mw0; trong đó Mw 0 là khối lượng phân tử của chitosan ban đ ầu, Mw là khối lượng phân tử của oligochitosan tại liều chiếu xạ tương ứng.

Tách các phân đoạn oligochitosan

Dung dịch chitosan sau khi chiếu xạ được tiến hành tách để thu nhận các phân đo ạ n oligochitosan trên hệ thống lọc khuấy nén khí (Stirred Ultrafiltration Cell, model 8400, Milopore Co., USA) sử dụng màng tách cellulose có đường kính 63,5 nm và kích thước lỗ lọc là 1000 (YM1), 3000 (YM3), 10.000 (YM10) và 30.000 kDa (YM30). Dung môi sử dụng là acetic acid 0,5% và áp suất nén 0,1 Mpa từ khí nitơ (Luan et al., 2005; 2009).

Xác định hiệu ứng tăng trưởng

Cây ớt sau khi gieo 10 ngày tuổi đư ợc chuyển vào chậu nhựa có chứa xơ dừa và tiến hành trồng theo phương pháp th ủy canh tĩnh sử dụng dinh dưỡng hyponex 0,1% (Nhật Bản) có bổ sung 100 ppm các phân đo ạn oligochitosan tương ứng (Luan et al., 2012). Đối chứng được trồng trên nguồn dinh dưỡng tương tự nhưng chỉ bổ sung thêm dung dịch acetic acid. Sau 14 ngày trồng trong nhà kính, tiến hành xác đ ịnh sinh khối tươi và hàm lượng chlorophyll. Hàm lượng sắc tố chlorophyll được xác định theo phương pháp quang phổ (Nguyễn Ngọc Tân, Nguyễn Đình Huyên, 1981; Nguyễn Văn Mã et al.,, 2013) như sau: nghiền 5 g lá trong 100 ml dung dịch ethanol 95%, sau đó ly tâm trong 10 phút ở 4.000 vòng/phút và đ ịnh lượng trên máy UV-Vis Lamba 25 (của Hãng Perkin Elmer – Mỹ) ở hai bước sóng 648 và 664 nm. Hàm lượng chlorophyll tổng số được tính theo công thức: Chlorophyll (µg/g) = (αa x D664 + βb x D 648) x k/m; trong đó D664, D648 lần lượt là độ hấp thu ở bước sóng 664 và 648 nm, αa = 5,24 (hằng số chlorophyll a chiết trong cồn), β b = 22,44 (hằng số chlorophyll b chiết trong cồn), k là hệ số pha loãng, m là khối lượng mẫu ban đầu.

Đánh giá hiệu lực ức chế của các phân đo ạn oligochitosan đối với nấm C. capsici trên môi trường thạch rắn

Môi trường PDA có bổ sung dung dịch oligochitosan có Mw và nồng đ ộ khác nhau. Các khoanh nấm 7 ngày tuổi có đường kính 6 mm được cấy vào trung tâm đĩa môi trường, nuôi cấy trong điều kiện tối ở nhiệt độ phòng. Theo dõi đường kính khuẩn lạc nấm C. capsici và bắt đầu đo đư ờng kính sau 10 ngày nuôi cấy. Hoạt lực ức chế của các phân đoạn oligochitosan được xác định trên cơ sở mức độ phát triển so với đ ối chứng (SVĐC) như sau: MĐPTSVĐC (%) = d/D x 100, trong đó: D, d (mm) lần lượt là đư ờng kính khuẩn lạc nấm trên môi trường PDA không bổ sung (đối chứng) và có bổ sung phân đoạn oligochitosan.

Đánh giá hiệu ứng phòng bệnh thán thư in vivo trên cây ớt

Cây ớt được trồng trong nhà kính sau 62-65 ngày tuổi và ngay khi bắt đ ầu ra quả non cây được sử dụng để xử lý phun phân đo ạn oligochitosan với nồng đ ộ 100 ppm. Mỗi nghiệm thức chọn 5 cây và lặp lại 3 lần. Nghiệm thức đ ối chứng xử lý bằng dung môi tương ứng và không chứa oligochitosan. Dung dịch thí nghiệm đư ợc phun ư ớt đ ều toàn bộ thân và lá cây ớt và tiến hành phun liên tục 3 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày. Sau 24 giờ tính từ lần phun thứ 3, chọn ngẫu nhiên mỗi cây 50 quả ớt và tiến hành gây nhiễm bằng cách tạo vết thương trên trái rồi phun dung dịch nấm C. capsici với mật đ ộ 104 bào tử/ml. Theo dõi và xác định tỷ lệ nhiễm bệnh của quả ớt sau 14 ngày phun nấm bằng cách đếm số quả bị nhiễm bệnh trên tổng số 50 quả gây nhiễm nhân tạo ở mỗi cây. Trọng lượng quả được xác định bằng cách cân 50 quả vừa chuyển đều sang màu đỏ ở mỗi cây.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Chiếu xạ chitosan và tách các phân đo ạn oligochitosan

Kết quả bảng 1 cho thấy trong cả 2 trường hợp có và không có bổ sung H2O2 thì sự suy giảm Mw của chitosan bằng bức xạ tia γ đều rất nhanh trong khoảng liều thấp và sau đó giảm chậm dần ở các liều xạ cao hơn. Tuy nhiên việc xử l ý kết h ợp với H2O2 đã có tác dụng làm giảm đi đáng kể liều xạ, cụ thể là để cắt mạch chitosan có Mw từ 193,7 kDa xuống còn 11,4 kDa thì cần đến 75 kGy trong khi nếu kết hợp xử lý với 1% H2O2 thì chỉ cần liều xạ là 10 kGy để tạo ra sản phẩm oligochitosan có Mw ~ 14,8 kDa.

Cơ chế cắt mạch chitosan hiệu quả bằng kết hợp đồng vận có thể được giải thích là do sự phân ly bức xạ củ a nước và H2O2 dưới tác dụng c ủa tia γ hình thành nên gốc tự do hydroxyl (OH) có tính oxy hóa mạnh làm tăng hiệu quả cắt mạch của chitosan. Cơ chế cắt mạch chitosan (ký hiệu là R-H) khi có mặt của H2O2 đã đư ợc Qin et al. (2002) đề cập, theo đó cơ chế cắt mạch gồm các bước như sau:

Các kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp kết hợp đ ồng thời tia γ và H2 O2 cho hi ệu quả cắt mạch rất nhanh và có thể giảm được gần 7,5 lần chi phí chiếu xạ. Trong nghiên cứu trước đây đã cho thấy oligochitosan có Mw ~ 11-16 kDa không những có hiệu ứng tăng trưởng mà còn có tác dụng thúc đẩy cây trồng gia tăng hiệu ứng của nhiều loại enzyme giúp cây kháng bệnh như chitinase, phenylalanyl ammonia-lyase (PAL) v.v. (Luan et al., 2005 và 2006). Chính vì vậy dung dịch oligochitosan chiếu xạ 10 kGy kết hợp xử lý 1% H2O2và có Mw ~ 14,8 kDa được lựa chọn đ ể tách các phân đo ạn cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm tìm hiểu hoạt tính sinh học của các phân đoạn trong sản phẩm này.

Với việc sử dụng 5 loại màng tách là YM1, YM3, YM10 và YM30 chúng tôi đã tách đư ợc 5 phân đo ạn oligochitosan tương ứng là F1: Mw < 1 kDa, F2: Mw ~ 1-3 kDa, F3: Mw ~ 3-10 kDa, F4: Mw ~ 10-30 kDa và F5: Mw > 30 kDa với hàm lượng cụ thể được trình bày ở hình 1. Các phân đoạn này được sử dụng để thử nghiệm các hoạt tính sinh học trên ớt và nấm C. capsici.

Hoạt tính kháng nấm C. capsici in vitro của các phân đoạn oligochitosan

Kết quả khảo sát hoạt lực ức chế nấm C. capsici trên môi trường PDA của các phân đoạn và nồng độ oligochitosan khác nhau đư ợc trình bày trên hình 2 và 3 cho thấy hiệu lực ức chế nấm trong điều kiện in vitro gia tăng theo nồng đ ộ và khối lượng phân tử của oligochitosan. Các phân đoạn F3, F4 và F5 đều có hoạt tính ức chế trực tiếp loại nấm này ở nồng đ ộ 0,5%, trong khi đó các phân đoạn F1 và F 2 với Mw < 3 kDa lại không có tác dụng ức chế ngay cả ở nồng độ bổ sung là 1%. Hoạt tính kháng nấm của oligochitosan đư ợc giải thích là do chúng làm thay đổi tính thấm của tế bào (Kim, Rajapakse, 2005; Long et al., 2014), ngăn chặn việc sao chép RNA của tế bào (Bautista-Baños et al., 2006; Long et al., 2014) hay do hoạt tính tạo phức (chelate) với các yếu tố vi lượng làm ức chế sự phát triển của hệ sợi nấm (Kim, Rajapakse, 2005, Bautista-Baños et al., 2006). Thêm vào đó oligochitosan còn đư ợc cho là chế phẩm diệt nấm hiệu quả bằng cách ngăn cản bào tử nấm nảy mầm, cản trở ống mầm kéo dài và ức chế sợi nấm bệnh phát triển (Eweis et al., 2006; Liu et al., 2007; Hernández-Lauzardo et al., 2011).

Khảo sát hiệu ứng tăng trưởng của các phân đoạn oligochitosan trên cây ớt

Kết quả khảo sát hiệu ứng tăng trưởng trên cây ớt trồng theo phương pháp thủy canh tĩnh được trình bày trên hình 4 cho thấy các lô thí nghiệm có sử dụng oligochitosan ở các phân đoạn khác nhau với nồng độ 100 ppm đ ều cho sinh khối vượt trội so với lô đ ối chứng. Trong đó, lô thí nghi ệm đư ợc xử lý với oligochitosan ở phân đoạn F2 cho kết quả tốt nhất khi gia tăng sinh khối tươi lên 56,3% và hàm lượng chlorophyll trong lá lên 92,4% so với đối chứng. Kết quả này cho thấy oligochitosan làm gia tăng hàm lượng chlorophyll ở lá và qua đó giúp gia tăng năng suất quang hợp dẫn đến làm gia tăng sinh khối cây ớt.

Khảo sát hiệu ứng phòng bệnh thán thư in vivo của các phân đoạn oligochitosan trên cây ớt

Kết quả khảo sát hiệu ứng phòng bệnh thán thư trên cây ớt được trình bày trên hình 5a cho thấy các phân đoạn oligochitosan đều có khả năng hạn chế tỷ lệ nhiễm bệnh trên quả ớt. Trong đó, nghiệm thức xử lý oligochitosan phân đoạn F2 và F3 đã hạn chế tỷ lệ nhiễm bệnh của quả ớt có ý nghĩa nhất với tỷ lệ quả bị bệnh lần lượt chỉ là 11,6% và 9,2%, trong khi lô đối chứng không xử lý oligochitosan có tỷ lệ nhiễm bệnh lên đến 76,4%. Đi ều này được giải thích là do các oligochitosan mạch ngắn (Mw ~ 1-10 kDa) dễ dàng xâm nhập vào tế bào và tham gia hiệu quả trong hiệu ứng phối hợp, tạo các phytoalexin đư ợc xem như là một chất kháng nấm tự nhiên trên thực vật (Luan et al., 2005). Ngoài ra kết quả nhận được từ hình 5b cũng cho thấy rằng tất cả các lô thí nghiệm có xử lý phun các phân đo ạn oligochitosan đều có trọng lượng trái vượt trội so với đ ối chứng, trọng lượng trái tăng cao nhất ở nghiệm thức bổ sung oligochitosan phân đo ạn F2 đạt mức 9,5 g/quả tươi (tăng 48,7% trọng lượng quả so với đối chứng). Như vậy, có thể thấy khi phun chế phẩm oligochitosan có Mw ~ 1-10 kDa không những làm giảm tỷ lệ nhiễm bệnh trên quả ớt mà còn làm gia tăng trọng lượng quả, góp phần tăng năng suất và cải thiện chất lượng quả ớt.

KẾT LUẬN

Năm  phân đo ạn  oligochitosan  là  F1: Mw  <  1 kDa, F2: Mw ~ 1-3 kDa, F3: Mw ~ 3-10 kDa, F4: Mw ~ 10-30 kDa và F5: Mw > 30 kDa đã đư ợc chế tạo bằng phương pháp chiếu xạ gamma Co-60 kết hợp xử lý H2O2. Các phân đoạn oligochitosan đều có tác dụng làm gia tăng hàm lượng chlorophyll và sinh khối tươi khi xử lý trên cây ớt. Các phân đoạn F3, F4 và F5 đã có tác dụng ức chế sự phát triển của tản nấm Capsici in vitro ở nồng đ ộ bổ sung là 0,5 - 1%. Trong khi đó kết quả nghiên cứu in vivo cho thấy các phân đo ạn F2 và F3 có Mw ~ 1-10 kDa lại có tác dụng tăng khả năng kháng bệnh của cây ớt và gia tăng trọng lượng quả từ 39,0 đến 48,7%. Chế phẩm oligochitosan có Mw ~ 1-10 kDa chế tạo bằng phương pháp chiếu xạ hứa hẹn là một sản phẩm tiềm năng ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao đ ể phòng bệnh thán thư cũng như gia tăng năng suất và chất lượng quả ớt nói riêng và nhiều lại rau quả nói chung.

Lời cảm ơn: Nhóm tác giả xin cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, khu Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh đã tài trợ kinh phí cho nghiên cứu này.

TTNC

http://vjs.ac.vn/index.php/vjbt/article/view/12325/103810381915

Bài Viết Cùng Chủ Đề

KỸ THUẬT TRỒNG LAN KIM TUYẾN

Việc sản xuất thương phẩm cây lan Kim Tuyến là điều tất yếu, đây sẽ là nguồn cung cấp dược liệu chữa bệnh, đồng thời mang lại thu nhập cho nông dân, góp phần bả...

Xem Thêm

Nông nghiệp Hữu cơ - Nền tảng Sản xuất Nông nghiệp Bền vững

Năm 2018, chính phủ ban hành Nghị định về nông nghiệp hữu cơ số 109/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018. Trong đó, về chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu c...

Xem Thêm

Ảnh hưởng của nhiệt độ, thời gian xử lý và độ tuổi thích hợp đến khả năng ra hoa của lan hồ điệp (Phalaenopsis sp.) nhập nội trồng tại Thành phố Hồ Chí Minh

Nhằm chủ động điều khiển sự ra hoa của lan Hồ Điệp theo ý muốn tại thành phố Hồ Chí Minh, giống lan Hồ Điệp Taida Pearl được đưa vào xử lý lạnh với các thời gia...

Xem Thêm

Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sự phát triển quần thể của sâu xanh hai sọc trắng Diaphania indica Sauders (Pyralidae - Lepidoptera) trên cây dưa leo tại Thành phố Hồ Chí Minh

Mục đích nghiên cứu nhằm cung cấp số liệu cơ bản về đặc điểm sinh học và sự phát triển quần thể của sâu xanh hai sọc trắng, góp phần bổ sung cơ sở khoa học và t...

Xem Thêm

Nghiên cứu bổ sung đặc điểm sinh học, khả năng ăn mồi của bọ rùa (Menochilus sexmaculatus fabricius) và (Coccinella transversalis fabricius) trên một số côn trùng gây hại chính trong nhà lưới tại Thành phố Hồ Chí Minh

Loài bọ rùa M. sexmaculatus và C. transversalis khá phổ biến trên nhiều loại cây trồng và có ý nghĩa lớn trong kiểm soát các loài rệp gây hại. Ở điều kiện phòng...

Xem Thêm

Phòng trừ nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae hại cây dưa lê trong nhà lưới bằng nhện nhỏ bắt mồi Amblyseius longispinosus (Phytoseiidae - Acarina)

Sử dụng một loài động vật ăn thịt mite Amblyseius longispinosus để kiểm soát nhện nhện đỏ Tetranychus urticae Koch trên dưa lê (Cucumis melo L.) được tiến hành ...

Xem Thêm